Trong kho tàng văn học Việt Nam, truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu luôn được coi trọng vì thể hiện một khía cạnh phức tạp và tàn nhẫn của cuộc sống. Qua tác phẩm này, nhà văn đã khắc họa một bức tranh đầy ám ảnh về số phận con người trong một xã hội nhiều biến động.
Tác phẩm miêu tả cuộc đời của những con người lao động bằng một ngôn ngữ mộc mạc nhưng sắc sảo, thể hiện sâu sắc nỗi đau và sự cam chịu của những nhân vật. Tác giả đã thành công trong việc dùng lối kể chuyện giản dị để bộc lộ những xung đột nội tâm sâu kín, những mâu thuẫn của cuộc sống qua cái nhìn của người nghệ sĩ.
Nhân vật trong truyện, đặc biệt là người đàn bà làng chài, đã được Nguyễn Minh Châu chân dung với những đặc điểm tính cách phong phú. Qua những trải nghiệm và tương tác của họ với môi trường sống, tác phẩm đã khai thác sâu vào các chủ đề về định mệnh, bất công và sự chấp nhận số phận.
Điểm nhấn của tác phẩm nằm ở việc sử dụng hình ảnh biểu tượng và ngôn ngữ tả thực để miêu tả cảnh quan và con người, qua đó nhấn mạnh đến sự chịu đựng và kiên cường trong nghịch cảnh. Bạo lực gia đình, sự cam chịu của người phụ nữ, và nỗi đau của cả một thế hệ đã được Nguyễn Minh Châu thể hiện một cách đầy xúc động, khiến người đọc không khỏi suy ngẫm về giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm.
Những giá trị này không chỉ giúp người đọc nhìn nhận lại về cuộc sống và con người, mà còn là bài học về cách thức đối mặt và vượt qua những thử thách, đau khổ trong cuộc sống. “Chiếc thuyền ngoài xa” không chỉ là một tác phẩm văn học, mà còn là một tài liệu giáo dục tinh thần, giúp mỗi người chúng ta hiểu hơn về cuộc sống và con người, qua đó sống tốt đẹp và ý nghĩa hơn.
d) Kiểm tra và chỉnh sửa
– Đọc lại bài văn hoặc đoạn văn đã viết, đối chiếu với các nội dung đã nêu ở mỗi bước.
– Tham khảo các yêu cầu kiểm tra và chỉnh sửa đã nêu ở Bài 1, phần Viết, mục d
(trang 39-40).
2.2. Rèn luyện kĩ năng viết: Diễn đạt và trình bày bài văn nghị luận
a) Cách thức
Để hoàn thành bài văn, sau khi đã xác định và sắp xếp được các ý, cần phải biết diễn đạt và trình bày ý của mình thành lời văn cụ thể. Một bài văn hay phải có những ý sâu sắc, mới mẻ, phù hợp với yêu cầu của đề bài, đồng thời được diễn đạt, trình bày bằng những từ ngữ, câu văn, đoạn văn chính xác, sinh động, truyền cảm và giàu sức thuyết phục.
Để diễn đạt và trình bày đúng, người viết cần chú ý đến một số yêu cầu sau:
– Lời văn nghị luận cần đảm bảo tính chặt chẽ, chuẩn xác; tránh lối dùng từ khuôn sáo, lối viết khoa trương, khoe chữ, nhận định đánh giá cực đoan, dùng hình ảnh hoặc từ cảm thán một cách tràn lan,…
– Hình thức trình bày cần đầy đủ bố cục ba phần, các luận điểm rõ ràng, bảo đảm tính thẩm mĩ (chữ viết rõ ràng, không sai chính tả, không tẩy xoá), trích dẫn đúng quy cách,… Chú ý khắc phục một số lỗi như: dùng từ thiếu chính xác, đặt câu sai ngữ pháp, thiếu lô gích, mạch liên kết đứt đoạn hoặc các ý trùng lặp….
b) Bài tập
Chỉ ra lỗi diễn đạt trong hai đoạn văn sau đây được trích từ bài làm của học sinh và nêu cách sửa.
(1) Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải là một tác phẩm nghệ thuật, bằng lối sử dụng từ ngữ tinh tế, rõ ràng, những từ gợi tả, gợi cảm, từ láy và điệp từ hoà cùng với nhịp thơ vui cho ta thấy một bức tranh mùa xuân thật đẹp trong bức tranh ấy chứa đựng cả tấm lòng, tình cảm của tác giả.
(2) Tuy Nguyễn Du xuất thân từ tầng lớp quyền quý. Cha và anh trai ông đều làm quan to trong triều. Bản thân ông cũng từng tham gia bộ máy cai trị phong kiến. Trong những năm loạn lạc, ông có điều kiện sống gần dân, nếm trải đủ mùi cay đắng. Vì thế, ông rất đồng cảm với người dân cùng khổ.
Trả lời:
(1) Các lỗi diễn đạt trong đoạn văn và cách sửa :
– Lỗi lô-gic. Không thể chỉ ghi là tác phẩm nghệ thuật mà cần phải nhận định đây là tác phẩm nghệ thuật có đặc điểm gì, nhằm tạo tiền đề nội dung cho vế sau triển khai. Vì vậy cần thêm từ đặc sắc/ độc đáo kết hợp với dấu chấm câu để ngắt vế câu. Sau khi sửa, câu văn sẽ trở thành “ Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Bằng lối…”
– Lỗi thiếu từ ngữ và sử dụng dấu câu : Từ ngữ “điệp từ” cần bổ sung đầy đủ thành “biện pháp điệp từ”, kết hợp dấu phẩy, ngắt vế câu. Câu văn sau khi sửa: “những từ gợi tả, gợi cảm, từ láy và biệp pháp điệp từ , hoà cùng với nhịp thơ vui”
– Lỗi dùng từ : “nhịp thơ vui” sửa thành “ nhịp điệu vui tươi”. Câu văn sau khi sửa: “hoà cùng với nhịp điệu vui tươi..”
– Lỗi dấu câu : Sử dụng dấu chấm ngăn cách vế câu “bức tranh mùa xuân thật đẹp trong bức tranh ấy”. Sau khi sửa : “bức tranh mùa xuân thật đẹp. Trong bức tranh ấy…”
(2) Các lỗi diễn đạt trong đoạn văn và cách sửa :
– Lỗi dùng sai quan hệ từ “tuy…nhưng”. Cần sửa lại : bỏ quan hệ từ “tuy”
– Lỗi sử dụng giấu câu : “Tuy Nguyễn Du xuất thân từ tầng lớp quyền quý. Cha và anh trai ông đều làm quan to trong triều”. Sử dụng dấu phẩy thay dấu chấm bởi lẽ, vế câu sau là ý nghĩa bổ sung cho vế trước. Sau khi sửa : “Tuy Nguyễn Du xuất thân từ tầng lớp quyền quý, cha và anh trai ông đều làm quan to trong triều”